Thứ hai, 03 Tháng 8 2020 21:55:44

logo_vidifi

Một số điểm mới về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế PDF. In Email
Chính trị
Thứ tư, 24 Tháng 8 2011 10:14

Ngày 04/7/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/8/2011

và thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 15/8/2004.

 


Ảnh minh họa

Nghị định quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh), doanh nghiệp nhà nước và quản lý nhà nước về công tác pháp chế. So với Nghị định số Nghị định số 122/2004/NĐ-CP thì Nghị định số 55/2011/NĐ-CP có một số điểm mới là:

Thứ nhất, về vị trí, chức năng của tổ chức pháp chế. Nghị định xác định rõ ràng, cụ thể hơn  về vị trí, chức năng của tổ chức pháp chế. Theo đó, Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị chuyên môn, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước bằng pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao và tổ chức thực hiện công tác pháp chế quy định tại Nghị định này.. Đối với tổ chức pháp chế ở doanh nghiệp nhà nước thì đây là đơn vị chuyên môn, có chức năng tham mưu, tư vấn cho Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp về những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ hai,về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế. Nghị định quy định cụ thể hơn và bổ sung những nhiệm vụ, quyền hạn mới cho tổ chức pháp chế như các nhiệm vụ, quyền hạn mới trong công tác xây dựng pháp luật; trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; công tác bồi thường của Nhà nước; công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế trong việc tham gia tố tụng, thi đua khen thưởng trong công tác pháp chế, hợp tác với nước ngoài về pháp luật.

Thứ ba, về tổ chức pháp chế. Tại Nghị định số 122/2004/NĐ-CP trước kia và Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đều quy định tổ chức Vụ Pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang bộ. Đối với các cơ quan thuộc Chính phủ, Nghị định 55 quy định có Ban Pháp chế hoặc Phòng pháp chế thuộc Văn phòng (Nghị định 122 quy định một số cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực có Vụ Pháp chế; các cơ quan thuộc Chính phủ hoạt động sự nghiệp thành lập Phòng Pháp chế hoặc có hình thức tổ chức khác phù hợp). Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tổ chức pháp chế ở các Tổng cục và tương đương; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ chức pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các Cục trực thuộc. Đặc biệt so với quy định tại Nghị định 122 (việc thành lập Phòng Pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh do Thủ trưởng cơ quan chuyên môn đề nghị), Nghị định quy định  phòng pháp chế được thành lập ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Phòng Pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở cơ quan chuyên môn khác ngoài 14 cơ quan chuyên môn đã nêu trên và ở các cơ quan chuyên môn được thành lập theo đặc thù riêng của từng địa phương.

Đối với tổ chức pháp chế tại Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thì Bộ trưởng quyết định thành lập và cơ cấu tổ chức pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách. Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp nhà nước quyết định tổ chức pháp chế hoặc bố trí nhân viên pháp chế chuyên trách.

Thứ tư, về người làm công tác pháp chế. Nghị định quy định người làm công tác pháp chế bao gồm: công chức pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cán bộ pháp chế ở các đơn vị quân đội, công an nhân dân; viên chức pháp chế ở đơn vị sự nghiệp công lập và nhân viên pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc doanh nghiệp nhà nước.

Công chức pháp chế phải là công chức từ ngạch chuyên viên và tương đương, có trình độ cử nhân luật trở lên; viên chức pháp chế phải là viên chức có chức danh nghề nghiệp, có trình độ cử nhân luật trở lên. Riêng đối với người đứng đầu tổ chức pháp chế phải có trình độ cử nhân luật trở lên và có ít nhất 05 năm trực tiếp làm công tác pháp luật.

Nghị định cũng có quy định chuyển tiếp đối với những người hiện đang làm công tác pháp chế mà chưa có trình độ cử nhân luật thì phải tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế do Bộ Tư pháp tổ chức. Sau 05 năm, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, người làm công tác pháp chế phải có trình độ cử nhân luật .

Thứ năm, đối với chế độ, chính sách cho người làm công tác pháp chế: công chức, cán bộ và viên chức pháp chế được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Doanh nghiệp nhà nước có thể vận dụng tiêu chuẩn, chế độ của cán bộ, công chức, viên chức pháp chế để lựa chọn, bố trí sử dụng và quyết định chế độ đối với nhân viên pháp chế./.

(Theo Ngân hàng phát triển)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
vdb_logo logo_vietcombank
logo_vinaconex

Đơn vị thành viên
vidifi_duyenhai
tuyendung

DOWNLOAD-VĂN BẢN

DOWNLOAD

EMAIL-VIDIFI.,JSC

EMAIL

FORUM-VIDIFI.,JSC

Forum

LIÊN HỆ

contact

RSS-VIDIFI.,JSC

RSS